11/08/2026 15:08
BVK – Mới đây, bệnh viện K tiếp nhận điều trị trường hợp bệnh nhân u tá tràng ở vị trí hiếm gặp. Người bệnh 54 tuổi có tổn thương kích thước khoảng 3 - 4 cm nằm tại đoạn D3 - D4 của tá tràng, sát góc treitz, tăng sinh nhiều mạch máu đã đặt ra bài toán khó, đòi hỏi đánh giá kỹ lưỡng trước mổ và đưa ra quyết định chính xác ngay trong cuộc phẫu thuật với ekip phẫu thuật viên Bệnh viện K.
Từ những triệu chứng không đặc hiệu đến khối u hiếm gặp
Bệnh nhân Đ.T.B (nữ, 54 tuổi) vào viện với biểu hiện tức vùng thượng vị, đầy bụng – những triệu chứng dễ gặp trong nhiều bệnh lý đường tiêu hóa. Tiền sử ghi nhận người bệnh từng mắc hội chứng ruột kích thích và xuất huyết tiêu hóa trên.

Qua nội soi, các bác sĩ phát hiện một khối u dưới niêm mạc tại đoạn D3 tá tràng, kích thước khoảng 3 cm, bề mặt nhẵn, chắc và ít di động. Siêu âm nội soi cho thấy tổn thương xuất phát từ lớp cơ thành tá tràng, xung quanh có tình trạng tăng sinh mạch. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính đa dãy tiếp tục ghi nhận khối tổn thương kích thước khoảng 3 - 4 cm ở đoạn D4, nằm sát góc Treitz (nơi đoạn cuối tá tràng nối với hỗng tràng và được treo bởi dây chằng Treitz).
Đặc điểm tăng sinh mạch và vị trí tổn thương khiến các bác sĩ hướng đến khả năng u thần kinh nội tiết (NET). Tuy nhiên, hình ảnh trước mổ chưa đủ để khẳng định bản chất khối u, đồng thời vẫn cần đặt vấn đề chẩn đoán phân biệt với u mô đệm đường tiêu hóa (GIST). Đây chính là điểm khó của ca bệnh: một tổn thương nhỏ nhưng đặc điểm không điển hình, nằm ở vị trí ít gặp và chưa thể xác định chắc chắn bản chất chỉ bằng hình ảnh.
Vị trí khối u khiến phẫu thuật trở thành bài toán phức tạp
Ths.BSCK II Hà Hải Nam, Phó Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa 1, Bệnh viện K chia sẻ “Trường hợp bệnh nhân B.là u tú tràng hiếm gặp. D3 và D4 là những đoạn nằm sâu trong ổ bụng; D4 tiếp nối với hỗng tràng tại góc Treitz - khu vực có mối liên quan chặt chẽ với hệ thống mạch máu nuôi ruột. Trong trường hợp này, khối u còn có biểu hiện tăng sinh nhiều mạch máu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là lấy bỏ tổn thương mà phải đồng thời kiểm soát tốt mạch máu, đảm bảo diện cắt phù hợp, duy trì tưới máu cho đoạn ruột còn lại và đặc biệt là tái lập lưu thông tiêu hóa an toàn.

Trước phẫu thuật, ê-kíp đã xây dựng phương án cắt đoạn D3 - D4 tá tràng cùng khối u và nối tá tràng - hỗng tràng. Trong trường hợp miệng nối có nguy cơ hẹp, phương án nối vị - hỗng tràng cũng được chuẩn bị. Chuẩn bị nhiều phương án trước một ca mổ khó không phải để thay đổi mục tiêu điều trị, mà để phẫu thuật viên có thể chủ động ứng phó với những diễn biến thực tế khi tiếp cận tổn thương.”
Không máy móc theo “kịch bản”, quyết định dựa trên thực tế trong phòng mổ
Ths.BSCK II Hà Hải Nam - Phó Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa 1, Bệnh viện K, ê-kíp phẫu thuật đã xử trí tổn thương theo hướng vừa bảo đảm nguyên tắc lấy trọn khối u, vừa hạn chế tối đa can thiệp, bảo đảm mô lành tính. Sau khi kiểm soát mạch máu và đánh giá trực tiếp tổn thương trong mổ, các bác sĩ quyết định cắt đoạn D3 - D4 tá tràng cùng khối u và thực hiện nối tá tràng - hỗng tràng, do đó phương án nối vị - hỗng tràng được dự kiến trước đó không cần thực hiện.
Khối u sau khi được lấy ra có đặc điểm tăng sinh nhiều mạch máu, tiếp tục đặt ra yêu cầu xác định chính xác bản chất tổn thương. Kết luận cuối cùng sẽ được đưa ra dựa trên giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch.

Đây cũng là một trong những điểm cho thấy vai trò của đánh giá trong mổ đối với những trường hợp u hiếm gặp: kế hoạch phẫu thuật được chuẩn bị kỹ càng, những quyết định cuối cùng vẫn phải dựa trên giải phẫu thực tế để đưa ra phương án điều trị cá thể hóa tối ưu cho người bệnh.
Khi một khối u vài centimet trở thành bài toán lớn
U tá tràng vốn là nhóm bệnh lý không thường gặp. Đặc biệt, với NET tá tràng, phần lớn tổn thương được phát hiện ở D1 và D2, trong khí khối u nằm tại D3 - D4 , sát góc Treizt như trường hợp ca bệnh này là vị trí khá hiếm gặp. GIST tá tràng cũng chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số GIST. Vì vậy, sự xuất hiện của một khối u có nguồn gốc từ lớp cơ, kích thước chỉ vài centimet nhưng tăng sinh mạch tại vùng D3 - D4 đã đặt ra đồng thời bài toán về chẩn đoán, kiểm soát mạch máu và lựa chọn phương án phẫu thuật phù hợp.

Với những ca bệnh như vậy cho thấy ngoài việc làm chủ kỹ thuật thì kinh nghiệm của phẫu thuật viên có vai trò rất quan trọng, không chỉ nằm ở thao tác thực hiện, mà còn ở khả năng dự liệu các tình huống và đưa ra quyết định phù hợp với từng người bệnh ngay trong cuộc mổ.
Ca bệnh một lần nữa cho thấy, trong điều trị ngoại khoa ung bướu, một khối u nhỏ không đồng nghĩa với một cuộc phẫu thuật đơn giản. Đằng sau mỗi quyết định là sự chuẩn bị về chuyên môn, sự phối hợp của cả ê-kíp và khả năng xử trí linh hoạt trước những khác biệt mà từng ca bệnh đặt ra, để cùng hướng đến mục tiêu chung kiểm soát xử trí tổn thương, đảm bảo hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh