• Hotline
    0904 690 818
  • Tổng đài tư vấn & hỗ trợ người bệnh
    1900886684
  • Cơ sở 1

    Số 43 Quán Sứ (đang sửa chữa) và số 9A - 9B Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội

  • Cơ sở 2

    Tựu Liệt, Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội

  • Cơ sở 3

    Số 30 đường Cầu Bươu, Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội

Chẩn đoán xác định ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III có vai trò như thế nào trong chiến lược điều trị triệt căn?

23/12/2021 10:12

BVK - Tại Việt Nam ung thư phổi là 1 trong 10 loại ung thư thường gặp trên cả hai giới và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Ung thư phổi được chia thành hai loại chính là ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm khoảng 10 - 15% và ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm khoảng 85%. Đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ, việc đưa ra phương pháp điều trị thích hợp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó giai đoạn bệnh đóng vai trò tiên quyết. Ung thư phổi không tế bào nhỏ được phân loại 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn III - ung thư đã lan ra hạch bạch huyết ở trung thất, hạch thượng đòn hoặc kích thước u trên 5 cm, xâm lấn các thành phần trong trung thất, thành ngực nhưng chưa có tổn thương di căn xa tại các cơ quan khác trong cơ thể.

Khác với giai đoạn muộn, đối với bệnh nhân chẩn đoán giai đoạn tiến triển tại u và tại hạch bạch huyết, mục tiêu điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III là điều trị triệt căn, bằng các phương pháp như phẫu thuật có hoá chất tiền phẫu trước, hoặc hoá xạ trị đồng thời. Phân loại dưới nhóm bao gồm giai đoạn IIIA, IIIB và IIIC, tuỳ thuộc vào giai đoạn u và hạch, trong đó vai trò quan trọng của yếu tố di căn hạch N2 hoặc N3 quyết định đến chiến lược điều trị hoá chất tiền phẫu hay hoá xạ đồng thời cho bệnh nhân. Trên lâm sàng, nếu hạch N3 là hạch thượng đòn, sinh thiết mô bệnh học giúp xác định giai đoạn thường dễ dàng. Tuy nhiên nếu N2, N3 là hạch trung thất, rốn phổi đối bên thì vấn đề xác định giai đoạn bệnh lúc này sẽ khó khăn hơn. Vì vậy, vai trò của chẩn đoán xác định giai đoạn càng vô cùng quan trọng trước khi đưa ra chiến lược điều trị cụ thể cho từng bệnh nhân.

Chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng lâm sàng, hình ảnh điển hình của ung thư phổi trên phim chụp cắt lớp vi tính lồng ngực, hoặc nội soi phế quản, từ đó sinh thiết lấy bệnh phẩm làm mô bệnh học nhằm chẩn đoán xác định bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ.

Các phương pháp chẩn đoán giai đoạn ung thư phổi không tế bào nhỏ bao gồm:

+ Chụp X-quang lồng ngực là phương pháp cơ bản để phát hiện tổn thương ở phổi. Một số hình ảnh X quang hay gặp: bóng mờ nham nhở, bờ tua gai, bóng mờ có những bờ cong tạo thành nhiều vòng cung... X-quang thường quy có vai trò trong chẩn đoán cũng như tầm soát ung thư phổi ở đối tượng nguy cơ cao.

*Chụp cắt lớp vi tính (CLVT): Là phương pháp không xâm lấn được chỉ định thường quy và phổ biến nhất trong chẩn đoán ung thư phổi hiện nay. Vai trò của CLVT lồng ngực với ung thư phổi bao gồm:

- Đánh giá khối u nguyên phát và hạch: hình dáng, kích thước, vị trí, mức độ xâm lấn, … Độ nhạy cao (97-98%) của CLVT đối với các trường hợp khối u > 1cm.

- Lựa chọn phương pháp sinh thiết trong hướng dẫn sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn cắt lớp vi tính.

- Đánh giá giai đoạn bệnh: mức độ lan rộng, xâm lấn của khối u và hạch, cũng như đánh giá đáp ứng đối với điều trị.

- Ngoài ra, CLVT mô phỏng sử dụng trong lập kế hoạch xạ trị cho bệnh nhân.

*Chụp MRI não, xạ hình xương: đánh giá tổn thương tại não và xương. Đây là xét nghiệm thường quy để đánh giá tình trạng di căn xa của ung thư phổi.

*Chụp PET-CT: là phương pháp có giá trị chẩn đoán cao đối với ung thư phổi nhằm đánh giá giai đoạn của khối u, di căn hạch và phát hiện các tổn thương di căn xa ngoài não. PET-CT có khả năng phát hiện các tổn thương kích thước < 1cm, phát hiện các hạch di căn với độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với CLVT.

*Siêu âm hạch cổ, siêu âm ổ bụng hoặc cắt lớp vi tính ổ bụng: giúp đánh giá di căn hạch cổ, di căn gan, tuyến thượng thận, hạch ổ bụng, hoặc tổn thương xương trên cửa sổ xương của CLVT.

Ngoài ra, các xét nghiệm khác được sử dụng trong các trường hợp khác nhau:

*Nội soi trung thất: phương pháp chẩn đoán xâm lấn tối thiểu nhằm đánh giá tình trạng di căn của các nhóm hạch ở trung thất, giúp các bác sỹ quyết định phương án điều trị tối ưu cũng như tiên lượng bệnh.

*Nội soi phế quản: Chỉ định cho những trường hợp vị trí u trung tâm. Qua nội soi cho phép xác định tổn thương và sinh thiết làm mô bệnh học. Ngoài ra, nội soi phế quản siêu âm (Endobronchial Ultrasound – EBUS) là kỹ thuật nội soi phế quản kết hợp thêm phương tiện siêu âm nhằm quan sát, đánh giá các tổn thương cạnh phế quản như khối u, hạch rốn phổi, hạch trung thất hoặc các tổn thương phổi ngoại vi mà nội soi thông thường khó tiếp cận được.

Mô bệnh học: không những cho phép chẩn đoán xác định bệnh mà còn xác định thể mô bệnh học, độ mô học giúp cho việc lựa chọn điều trị và tiên lượng bệnh. Bệnh phẩm có thể được lấy sinh thiết khối u phổi hoặc tổn thương di căn (hạch thượng đòn, tổn thương di căn gan, hạch nách, …).

Chỉ điểm khối u: chất chỉ điểm khối u như CEA, Cyfra21-1 không có giá trị trong chẩn đoán xác định bệnh, tuy nhiên có thể sử dụng nhằm theo dõi trong quá trình điều trị.

Thông tin từ Khoa Nội 1, Bệnh viện K

Nguồn tài liệu tham khảo:

https://www.cancer.org/cancer/lung-cancer/detection-diagnosis-staging/staging-nsclc.html

https://www.nccn.org/guidelines/guidelines-detail?category=1&id=1450

Asha Kandathil al (2018). Role of FDG PET/CT in the Eighth Edition of TNM Staging of Non–Small Cell Lung Cancer. Radiographics. 2018;38:7,2134-2149.

Francisco Aecio et al (2012). Bronchoscopy and endobronchial ultrasound for diagnosis and staging of lung cancer. Cleve Clin J Med. 2012 May;79 Electronic Suppl 1:eS11-6.

Bài liên quan

Thong ke