02/10/2026 08:10
BVK - Trong điều trị ung thư trực tràng, phẫu thuật không chỉ là loại bỏ tổn thương, đó là bài toán đòi hỏi bác sĩ phải cân nhắc đồng thời vị trí tổn thương, mức độ xâm lấn, tình trạng hạch và mối liên quan của khối u với các cấu trúc giải phẫu xung quanh để đưa ra chiến lược điều trị phù hợp. Với những tổn thương ở trực tràng, đặc biệt khi nằm trong vùng tiểu khung, phẫu thuật viên phải thao tác trong một không gian giải phẫu hẹp, đòi hỏi sự chính xác trong từng bước xử trí tổn thương cũng như vét hạch theo nguyên tắc ung thư học.
Từ một dấu hiệu bất thường đến chẩn đoán ung thư
Người bệnh N.V.T (nam, 48 tuổi) đến thăm khám sau khi xuất hiện tình trạng đại tiện ra máu. Người bệnh có tiền sử từng phẫu thuật cắt trĩ trước đó ba năm. Qua nội soi, các bác sĩ phát hiện tổn thương loét sùi cách rìa hậu môn khoảng 8 cm, kích thước khoảng 2 x3 cm. Kết quả chụp cắt lớp vi tính cho thấy hình ảnh dày thành trực tràng trung bình, khối u còn khu trú. Đặc biệt, kết quả giải phẫu bệnh xác định tổn thương là ung thư biểu mô tuyến. Những dữ liệu này trở thành cơ sở quan trọng để các bác sĩ tiếp tục đánh giá giai đoạn và xây dựng hướng điều trị cho người bệnh.
Qua thăm khám lâm sàng kết hợp cùng với các xét nghiệm cận lâm sàng : nội soi, chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh, người bệnh được chẩn đoán ung thư trực tràng trung bình T2N0M0. Sau khi được hội chẩn toàn khoa, dưới sự chỉ trì của PGS.TS Kim Văn Vụ, Trưởng Khoa Ngoại Tiêu hóa 1 bệnh nhân được đánh giá toàn diện và thống nhất chỉ định phẫu thuật robot cắt đoạn trực tràng và vét hạch.
Ca phẫu thuật này được thực hiện thành công trực tiếp bởi ThS.BS Trần Đình Tân - Phó Trưởng Khoa Ngoại Tiêu hóa 1, cùng ê- kíp phẫu thuật gồm: BS.CKII Nguyễn Tiến Trung, ThS.BS. Phạm Vũ Minh Hoàng và ê- kíp gây mê BS.CKII Nguyễn Văn Qùy.

Bác sĩ Trần Đình Tân- Phó trưởng khoa Ngoại Tiêu Hóa 1 nhận định: Đây là trường hợp khối u có kích thước tương đối nhỏ và ở giai đoạn sớm, do đó khó nhận diện trực tiếp bằng mắt thường trong quá trình phẫu thuật. Vì vậy, ê-kíp lựa chọn kết hợp công nghệ huỳnh quang ICG (Indocyanine Green) với phẫu thuật robot Da Vinci Xi nhằm hỗ trợ định vị tổn thương và tối ưu hóa các bước phẫu thuật.
ICG được tiêm trước phẫu thuật một ngày. Trong quá trình mổ, dưới chế độ quan sát huỳnh quang, tín hiệu ICG giúp phẫu thuật viên nhận diện rõ vị trí khối u, đặc biệt hữu ích đối với những tổn thương nhỏ, khó quan sát trên bề mặt. Đồng thời, kỹ thuật này còn cho phép quan sát đường dẫn lưu bạch huyết vùng của tổn thương, cung cấp thêm thông tin hỗ trợ phẫu thuật viên xác định phạm vi vét hạch phù hợp với nguyên tắc điều trị ung thư, tránh bỏ xót hạch.
Bên cạnh vai trò định vị tổn thương và hỗ trợ đánh giá hệ thống dẫn lưu bạch huyết, ICG còn được sử dụng ở giai đoạn tạo miệng nối để đánh giá tưới máu của hai đầu ruột theo thời gian thực. Đây là một thông tin quan trọng giúp phẫu thuật viên lựa chọn vị trí miệng nối có điều kiện tưới máu phù hợp, qua đó góp phần tối ưu hóa độ an toàn của miệng nối và giảm nguy cơ biến chứng liên quan đến thiếu máu nuôi.
Robot Da Vinci XI và ICG: Bộ đôi công nghệ hỗ trợ tối hóa trong phẫu thuật ung thư trực tràng.
Việc kết hợp giữa hệ thống robot Da Vinci Xi – ICG trong trường hợp này giúp hỗ trợ tối ưu hóa trong phẫu thuật : từ định vị tổn thương, hỗ trợ định hướng vét hạch đến đánh giá tưới máu trước khi thực hiện miệng nối.
.jpg)
Trực tràng nằm sâu trong vùng tiểu khung, nơi không gian thao tác tương đối hạn chế và tập trung nhiều cấu trúc giải phẫu quan trọng. Trong bối cảnh đó, hệ thống robot phẫu thuật đồng thời cung cấp cho phẫu thuật viên hình ảnh phẫu trường phóng đại, rõ nét và khả năng điều khiển các dụng cụ với độ linh hoạt cao, hỗ trợ thực hiện những thao tác bóc tách, cắt nối và xử lý tổn thương trong không gian hẹp, loại bỏ hoàn toàn tổn thương mà vẫn bảo đảm cơ quan lành xung quanh, người bệnh phục hồi tốt hơn sau mổ
Theo bác sĩ Trần Đình Tân, công nghệ hiện đại chỉ thực sự phát huy giá trị khi được sử dụng đúng chỉ định và kết hợp với đánh giá toàn diện về đặc điểm khối u, giai đoạn bệnh, giải phẫu của từng người bệnh. Mục tiêu cuối cùng vẫn là đảm bảo việc tuân thủ nguyên tắc ung thư học đồng thời nâng cao tính an toàn và tối ưu hóa kết quả phẫu thuật.
Không bỏ qua những dấu hiệu tưởng như quen thuộc
Ung thư trực tràng có thể biểu hiện bằng những triệu chứng dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý vùng hậu môn – trực tràng thường gặp, trong đó có đại tiện ra máu. Đặc biệt, ở những người từng có bệnh lý hậu môn – trực tràng như trĩ, triệu chứng chảy máu khi đi ngoài càng dễ bị quy cho nguyên nhân cũ. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đại tiện ra máu đều xuất phát từ bệnh trĩ.
.jpg)
Khi triệu chứng xuất hiện kéo dài, tái diễn hoặc đi kèm những thay đổi bất thường trong thói quen đại tiện, người bệnh cần được thăm khám để xác định nguyên nhân.
Bởi trong điều trị ung thư, phát hiện bệnh là bước đầu tiên. Nhưng lựa chọn đúng chiến lược điều trị, đúng thời điểm và phù hợp với từng trường hợp mới là hành trình tiếp theo cần được thực hiện một cách bài bản và chính xác.